trang chu facebook twitter g+ youtube blog Blogspot Slideshare RSS Register Content Management
BS. Lâm Xuân Nhã Bác sĩ nội trú Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Chuyên Khoa Ngoại Thần Kinh Quốc Tế

Có thể bạn quan tâm

Dị tật dính khớp sọ sớm ở trẻ em

Dị tật dính khớp sọ sớm ở trẻ em multi document icon

Dị tật dính khớp sọ sớm ở trẻ em (hay còn gọi là tật hẹp sọ - Craniosynostosis) là một dị tật bẩm sinh xảy ra khi các đường khớp sọ dính với nhau sớm (đóng sớm). Việc dính sớm này làm em bé có hình dạng hộp sọ bất thường vì xương không mở rộng bình thường theo sự phát triển của não bộ

Dị dạng Chiari

Dị dạng Chiari multi document icon

Dị dạng Chiari (Chiari Malformation) được xem là một tật bẩm sinh, mặc dù các bệnh mắc phải của tình trạng này đã được chẩn đoán. Giáo sư giải phẫu bệnh người Đức, Hans Chiari, đã đầu tiên mô tả những bất thường của não bộ ở vị trí chẩm cổ vào những năm 1890. Ông phân loại thứ tự theo mức độ nghiêm trọng: loại I, II, III và IV...

Dị dạng động tĩnh mạch

Dị dạng động tĩnh mạch multi document icon

Dị dạng động tĩnh mạch (Arteriovenous Malformations - AVM) là một đám mạch máu (động và tĩnh mạch) bất thường, sắp xếp lộn xộn, và dễ chảy máu

Hội chứng tuỷ sống bám thấp

Hội chứng tuỷ sống bám thấp multi document icon

Hội chứng tủy sống bám thấp (Tethered Spinal Cord Syndrome) là một rối loạn thần kinh gây ra bởi tủy sống bị dính với vùng da xung quanh, điều này làm hạn chế sự chuyển động của tủy sống trong cột sống. Sự dính này gây ra bất thường kéo căng tủy sống. Hội chứng này có liên quan chặt chẽ với tật nứt đốt sống (spina bifida). Người ta ước tính rằng 20 đến 50 phần trăm trẻ em bị dị tật nứt đốt sống sẽ cần phải phẫu thuật giải phóng tuỷ sống (untethering) ngay sau khi sinh.

U não do di căn

U não do di căn multi document icon

U não do di căn là những khối u ở não có nguồn gốc từ các mô hoặc cơ quan bên ngoài não. Di căn não là biến chứng thường gặp của ung thư toàn thân và nguyên nhân quan trọng gây nên thương tật và tử vong ở những bệnh nhân ung thư. Bệnh có tiên lượng khá xấu và phương thức điều trị thay đổi tùy theo kích thước và vị trí u não, loại ung thư nguyên phát và sức khỏe chung của người bệnh.

Nang Tarlov

Biên soạn:
Hiệu đính: BS. Trương Quang Huy
Ngày đăng:
Facebook Share on Google+ Tweet print

Số lượt xem: 1390

Tóm tắt: Nang Tarlov là cấu trúc nang chứa đầy dịch quanh rễ thần kinh, thường gặp nhiều nhất ở vùng xương cùng, phần cuối của cột sống. Nang điển hình hay hình thành dọc theo các rễ thần kinh sau. Các nang này có thể có hoặc không có van. Tính chất chính giúp phân biệt nang Tarlov với tổn thương khác là sự hiện diện của sợi rễ thần kinh trong thành nang, hoặc bên trong nang.

Nang Tarlov là gì?

Nang Tarlov là cấu trúc nang chứa đầy dịch quanh rễ thần kinh, thường gặp nhiều nhất ở vùng xương cùng, phần cuối của cột sống. Nang điển hình hay hình thành dọc theo các rễ thần kinh sau. Các nang này có thể có hoặc không có van. Tính chất chính giúp phân biệt nang Tarlov với tổn thương khác là sự hiện diện của sợi rễ thần kinh trong thành nang, hoặc bên trong nang.

Do vị trí gần khu vực vùng chậu thấp, bệnh nhân có thể bị chẩn đoán nhầm với thoát vị đĩa đệm thắt lưng, viêm màng nhện, và ở phụ nữ, có thể bị chẩn đoán nhầm với các bệnh phụ khoa. Việc chẩn đoán chính xác có thể phức tạp hơn nếu bệnh nhân có bệnh khác ảnh hưởng đến vùng chậu.

Mức độ phổ biến của nang Tarlov

Nang Tarlov nhỏ và không triệu chứng thực sự hiện diện trong khoảng 5 – 9 phần trăm dân số chung. Tuy nhiên, nang lớn có triệu chứng là tương đối hiếm. Nang Tarlov đầu tiên đã được xác định trong năm 1938, nhưng kiến thức khoa học về nang này vẫn còn rất hạn chế.

Trong một cuộc khảo sát về nang Tarlov gần đây, ước tính có khoảng 86,6 phần trăm là nữ, và 13,4 phần trăm là nam giới. Bệnh này gặp ở phụ nữ thường hơn nam giới. Phần lớn những người có bệnh trong khảo sát nằm trong độ tuổi từ 31 tới 60, với tổng cộng 80,4 phần trăm bệnh trong nhóm tuổi đó.

Ước tính có khoảng 33 phần trăm số người tham gia khảo sát có một nang hoặc nhiều nang ở các bộ phận khác của cơ thể, thường gặp nhất là bụng hoặc tay và cổ tay.

Ước tính có khoảng 3 phần trăm số người được hỏi không bị đau; 4,2 phần trăm đánh giá mức độ đau của họ là rất nhẹ ; 7,6 phần trăm là nhẹ, 31,5 phần trăm là vừa phải; 38,6 phần trăm là đau nhiều, và 15,1 phần trăm là rất nhiều.

Nguyên nhân gây các triệu chứng của nang Tarlov

Mặc dù nguyên nhân chính xác chưa được biết, có nhiều giả thuyết về những nguyên nhân khiến nang Tarlov không có triệu chứng thành có triệu chứng. Như ghi nhận được ở một số ca, tai nạn, té ngã ảnh hưởng đến khu vực xương cùng - cụt khiến những nang Tarlov chưa được chẩn đoán trước đây bùng phát triệu chứng.

Triệu chứng nang Tarlov

Sự gia tăng áp lực trong hoặc lên thành nang có thể làm tăng các triệu chứng và gây tổn thương thần kinh. Ngồi, đứng, đi bộ, và cúi người thường gây đau, và thường thì tư thế giảm đau duy nhất là nằm nghiêng về một bên. Triệu chứng rất khác nhau tùy bệnh nhân, có thể bùng phát và sau đó giảm đi. Những triệu chứng sau đây có thể xuất hiện ở bệnh nhân có nang Tarlov.

  • Đau ở vùng của các dây thần kinh bị ảnh hưởng bởi nang, đặc biệt là vùng mông.
  • Yếu cơ.
  • Khó ngồi lâu.
  • Mất cảm giác trên da.
  • Mất phản xạ.
  • Thay đổi đi tiêu ví dụ như táo bón.
  • Thay đổi trong chức năng bàng quang bao gồm tiểu lắt nhắt hoặc tiểu không tự chủ.
  • Thay đổi trong chức năng tình dục.

Chẩn đoán nang Tarlov

Nang Tarlov khó chẩn đoán vì hiểu biết về bệnh còn hạn chế, và vì nhiều triệu chứng có thể giống với các bệnh khác. Hầu hết bác sĩ gia đình (bác sĩ đa khoa) thường sẽ không nghĩ đến chẩn đoán nang Tarlov. Tốt nhất là nên tham vấn bác sĩ Ngoại thần kinh có kinh nghiệm về điều trị tình trạng này.

Nang Tarlov có thể được phát hiện khi bệnh nhân đau lưng hoặc đau thần kinh tọa được chụp cộng hưởng từ (MRI) . Bệnh nên được theo dõi bằng hình ảnh học, nhất là chụp CT tuỷ đồ ( chụp CT scan có bơm thuốc kênh tủy).

Hình MRI cho thấy hình ảnh nang Tarlov (mũi tên đỏ) trong ống sống ngang mức xương cùng S2 có thể gây chèn ép rễ thần kinh S2 bên trái (mũi tên xanh).

Chụp CT tủy sau 6 giờ tiêm thuốc cản quang cho thấy trong nang không có thuốc cản quang, như vậy không có thông thương giữa nang Tarlov (mũi tên đỏ) và khoang dưới nhện.

Chụp CT tủy sau 6 giờ tiêm thuốc cản quang cho thấy trong nang không có thuốc cản quang, như vậy không có thông thương giữa nang Tarlov (mũi tên đỏ) và khoang dưới nhện.

Nếu một bệnh nhân có vấn đề về bàng quang và tìm đến một bác sĩ tiết niệu,  một vài xét nghiệm có thể giúp chẩn đoán nang Tarlov. Các xét nghiệm niệu khoa tiêu chuẩn cho nang Tarlov là nhằm xác định xem bệnh nhân có triệu chứng bàng quang hỗn loạn thần kinh không.  Trong khảo sát niệu động học (urodynamics), bàng quang được bơm đầy nước qua ống thông và các đáp ứng của bàng quang được ghi nhận. Soi bàng quang là kỹ thuật đưa một ống với một máy quay phim nhỏ vào bàng quang qua niệu đạo. Bàng quang hỗn loạn thần kinh sẽ biểu hiện co cơ quá mức. Một xét nghiệm nữa có thể làm là siêu âm thận để xem nước tiểu trào ngược lên thận không.

Điều trị không phẫu thuật nang Tarlov

Phương pháp điều trị không phẫu thuật bao gồm dẫn lưu dịch não tủy thắt lưng, chọc hút nang dưới hướng dẫn CT, và một kỹ thuật mới hơn là hút dịch não tủy trong nang và sau đó bơm keo fibrin (keo sinh học) lấp đầy nang. Thật không may, không có thủ thuật nào trong những cách này có thể ngăn chặn tái phát ở các nang có triệu chứng.

Phẫu thuật nang Tarlov

Phẫu thuật nang Tarlov bao gồm bộc lộ vùng cột sống nơi có nang Tarlov. Nang được cắt mở ra, tháo lưu dịch nang, và sau đó bơm đầy keo fibrin hoặc các chất khác vào để ngăn chặn tái phát.

Các kỹ thuật phẫu thuật khác cho nang Tarlov có  triệu chứng bao gồm phẫu thuật cắt bản sống giải ép đơn giản (simple decompressive laminectomy), phẫu thuật cắt nang và / hoặc cắt bỏ rễ thần kinh, phẫu thuật mở nang vi phẫu và khâu ghép.

Hiện xu hướng phẫu thuật cho nang Tarlov ở Việt Nam là phá nang vi phẫu và ngừa tái phát bằng kẹp clip hay khâu cột cuống nang.

Các tác giả của một nghiên cứu ghi nhận rằng bệnh nhân có nang Tarlov lớn hơn 1,5 cm và đau lan toả liên quan rễ thần kinh hoặc rối loạn chức năng bàng quang hay đại tràng sẽ đáp ứng  điều trị phẫu thuật tốt nhất. Tuy nhiên, lợi ích luôn luôn phải được cân nhắc với nguy cơ của phẫu thuật mang lại.

Kết quả sau phẫu thuật nang Tarlov

Sau phẫu thuật, dò dịch não tủy là biến chứng thường gặp nhất, nhưng chúng có thể tự liền trong một số trường hợp. Bệnh nhân có thể được hướng dẫn nằm trên giường với chân giường nâng cao lên, và mang áo nẹp (corset) để giảm sưng. Nguy cơ biến chứng viêm màng não vi trùng là có, dù là thấp. Mặc dù một số bệnh nhân ghi nhận sự giảm đau đáng kể, kết quả tiêu cực phổ biến nhất là ca mổ không giải quyết được các triệu chứng. Trong một số trường hợp, phẫu thuật có thể làm cho triệu chứng đã có nặng hơn nữa hoặc có thể gây ra triệu chứng mới.

Khi tất cả các lựa chọn điều trị đều không có hiệu quả, điều tiên quyết là bệnh nhân phải chấp nhận một số thay đổi sinh hoạt cần thiết và tuân thủ phác đồ kiểm soát đau với bác sĩ. Với kiểm soát đau có giám sát, và hỗ trợ nhóm đồng bệnh, bệnh nhân có thể thích nghi được với nó và cải thiện chất lượng cuộc sống của mình.

Tài liệu tham khảo

http://www.aans.org/Patient%20Information/Conditions%20and%20Treatments/Tarlov%20Cyst.aspx
http://www.burtonreport.com/infspine/surgfatgraftcyst.htm
http://radiopaedia.org/images/1829999
http://www.neuroradiologycases.com/2011/08/blog-post_11.html
http://www.ijnm.in/article.asp?issn=0972-3919;year=2012;volume=27;issue=2;spage=111;epage=114;aulast=Padma

Load more
bullet-header Chia sẻ bài viết
Ủng hộ bài viết trên FB, G+
Theo dõi Y Học Cộng Đồng trên mạng xã hội

Lâm Xuân Nhã
BS. Lâm Xuân Nhã
Bác sĩ nội trú
Ngành: Chẩn đoán hình ảnh
Công tác tại: Bệnh viện Chuyên Khoa Ngoại Thần Kinh Quốc Tế
Lê Thanh Nhã Uyên

BS. Lê Thanh Nhã Uyên Bác sĩ đa khoa Đa khoa

Nguyễn Hữu Thanh

BS. Nguyễn Hữu Thanh Thạc sĩ Chẩn đoán hình ảnh

La Hồng Châu

Ths. BS. La Hồng Châu Thạc sĩ Chẩn đoán hình ảnh

Nguyễn Nam Hà

BS. Nguyễn Nam Hà Y học cổ truyền

Trịnh Hoàng Kim Tú

BS. Trịnh Hoàng Kim Tú Bác sĩ đa khoa Đa khoa

Nguyễn Diệu Hương

BS. Nguyễn Diệu Hương Bác sĩ đa khoa Nhãn khoa

Nguyễn Thị Nhã Đan

BS. Nguyễn Thị Nhã Đan Bác sĩ đa khoa Sản khoa

Võ Thành Luân

BS. Võ Thành Luân Chuyên khoa 1 Chẩn đoán hình ảnh

Nguyễn Hồ Quỳnh Anh

BS. Nguyễn Hồ Quỳnh Anh Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Đoàn Thị Thoa

BS. Đoàn Thị Thoa Bác sĩ đa khoa Đa khoa

Nguyễn Thu Hà

Nguyễn Thu Hà Bác sĩ đa khoa

Trần Kinh Thành

BS. Trần Kinh Thành Bác sĩ đa khoa Nội khoa

Đinh Thị Kiều Lam

BS. Đinh Thị Kiều Lam Chuyên khoa 1 Nhiễm

Nguyễn Quốc Vinh

BS. Nguyễn Quốc Vinh Bác sĩ nội trú Ngoại tổng quát

Phạm Bảo Ngọc

BS. Phạm Bảo Ngọc Bác sĩ nội trú Ngoại tổng quát

Nguyễn Thanh Hưng

BS. Nguyễn Thanh Hưng Thạc sĩ Nhi khoa

Hoàng Minh Tú Vân

BS. Hoàng Minh Tú Vân Bác sĩ đa khoa Nhiễm

Nguyễn Ngọc Yến Thư

BS. Nguyễn Ngọc Yến Thư Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Lâm Đại Phong

BS. Lâm Đại Phong Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Lâm Xuân Nhã

BS. Lâm Xuân Nhã Bác sĩ nội trú Chẩn đoán hình ảnh

Nguyễn Quang Tâm

BS. Nguyễn Quang Tâm Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Hoàng Đình Tuy

BS. Hoàng Đình Tuy Chuyên khoa 1 Ngoại tổng quát

Tạ Thùy Linh

BS. Tạ Thùy Linh Bác sĩ nội trú Nhãn khoa

Bùi Thị Hằng

BS. Bùi Thị Hằng Bác sĩ nội trú Nhi khoa

Nguyễn Thanh Tùng

TS Nguyễn Thanh Tùng Tiến sĩ Răng Hàm Mặt

Phan Hoàng Phương Khanh

BS. Phan Hoàng Phương Khanh Bác sĩ nội trú Nội thần kinh

Lê Hoàng Sơn

BS. Lê Hoàng Sơn Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Huỳnh Trung Triệu

BS. Huỳnh Trung Triệu Bác sĩ nội trú Nhiễm

Nguyễn Thị Thu Hương

BS. Nguyễn Thị Thu Hương Bác sĩ nội trú Răng Hàm Mặt

Nguyễn Khánh Linh

ThS.BS. Nguyễn Khánh Linh Thạc sĩ Sản khoa

Trần Mạnh Linh

ThS.BS. Trần Mạnh Linh Thạc sĩ Sản khoa

Nguyễn Thanh Bình

BS. Nguyễn Thanh Bình Bác sĩ đa khoa Đa khoa

Phạm Ngọc Đan Thanh

BS. Phạm Ngọc Đan Thanh Bác sĩ đa khoa Nhãn khoa

Nguyễn Ngọc Thiện

BS. Nguyễn Ngọc Thiện Chuyên khoa 1 Ngoại thần kinh

Mạc Thị Mỹ Nguyện

BS. Mạc Thị Mỹ Nguyện Bác sĩ đa khoa Đa khoa

Trịnh Ngọc Thuỳ An

BS. Trịnh Ngọc Thuỳ An Chuyên khoa 1 Nhãn khoa

Chế Thị Trà My

BS. Chế Thị Trà My Chuyên khoa 1 Sản khoa

Phạm Minh Sơn

BS. Phạm Minh Sơn Bác sĩ nội trú Sản khoa

Trần Quốc Hương

BS. Trần Quốc Hương Bác sĩ đa khoa Đa khoa

Nguyễn Thị Yến Nhi

BS. Nguyễn Thị Yến Nhi Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Hồ Dũng

BS. Hồ Dũng Thạc sĩ Đa khoa

Huỳnh Kim Hiệu

BS.TS. Huỳnh Kim Hiệu Bác sĩ đa khoa Y học hạt nhân

Võ Nguyễn Ngọc Trang

BS. Võ Nguyễn Ngọc Trang Bác sĩ đa khoa Nội thần kinh

Nguyễn Tấn Tài

Nguyễn Tấn Tài Bác sĩ đa khoa Đa khoa

Nguyễn Thị Hương Bình

BS. Nguyễn Thị Hương Bình Bác sĩ đa khoa Tai mũi họng

Nguyễn Hoàng An

BS. Nguyễn Hoàng An Chuyên khoa 1 Nội khoa

Phạm Nguyên Quý

BS.TS. Phạm Nguyên Quý Bác sĩ đa khoa Đa khoa

Trương Quang Huy

BS. Trương Quang Huy Chuyên khoa 1 Ngoại thần kinh

Vương Ngọc Thiên Thanh

BS. Vương Ngọc Thiên Thanh Bác sĩ nội trú Nhi khoa

Phạm Thanh Hoàng

BS. Phạm Thanh Hoàng Bác sĩ nội trú Sản khoa

Nguyễn Vũ Xuân Huy

BS. Nguyễn Vũ Xuân Huy Bác sĩ nội trú Răng Hàm Mặt

Võ Triệu Đạt

BS. Võ Triệu Đạt Thạc sĩ Sản khoa

Đặng Đỗ Thanh Cần

Ths.BS. Đặng Đỗ Thanh Cần Thạc sĩ Ngoại thần kinh

Lý Kiều Diễm

Ths.BS. Lý Kiều Diễm Thạc sĩ Nhi khoa

Triệu Thị Thanh Tuyền

BS. Triệu Thị Thanh Tuyền Bác sĩ đa khoa Sản khoa

Nguyễn Huỳnh Nhật Tuấn

BS. Nguyễn Huỳnh Nhật Tuấn Chuyên khoa 1 Chẩn đoán hình ảnh

Nguyễn Võ Ngọc Trang

BS. Nguyễn Võ Ngọc Trang Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Nguyễn Thị Minh Trang

BS. Nguyễn Thị Minh Trang Bác sĩ nội trú Sản khoa

Nguyễn Văn Phúc

BS. Nguyễn Văn Phúc Chuyên khoa 1 Đa khoa

Phạm Hồ Liên Phương

BS. Phạm Hồ Liên Phương Bác sĩ đa khoa Nhi khoa

Nguyễn Kim Long

ThS. Nguyễn Kim Long Thạc sĩ Công nghệ thông tin

Phan Thị Xuân Viên

BS. Phan Thị Xuân Viên Bác sĩ nội trú Nội khoa

Đoàn Văn Minh

BS. Đoàn Văn Minh Thạc sĩ Đa khoa

Nguyễn An Nghĩa

BS. Nguyễn An Nghĩa Chuyên khoa 1 Nhi khoa

Bùi Thị Phương Loan

BS. Bùi Thị Phương Loan Chuyên khoa 1 Sản khoa

Phùng Hoàng Đạo

BS. Phùng Hoàng Đạo Bác sĩ nội trú Nội khoa

Lê Đăng Khoa

BS. Lê Đăng Khoa Bác sĩ đa khoa Nam khoa

Trần Ngọc Đăng

BS. Trần Ngọc Đăng Bác sĩ đa khoa Đa khoa

Đặng Ngọc Trân

BS. Đặng Ngọc Trân Bác sĩ đa khoa Tai mũi họng

Tô Mai Xuân Hồng

BS.TS. Tô Mai Xuân Hồng Tiến sĩ Sản khoa

Trần Công Bảo Phụng

BS. Trần Công Bảo Phụng Bác sĩ nội trú Nhi khoa

Nguyễn Hải Nam

BS. Nguyễn Hải Nam Bác sĩ nội trú

Huỳnh Mỹ Liên

BS. Huỳnh Mỹ Liên Bác sĩ nội trú Sản khoa

Lê Trần Minh Sử

BS. Lê Trần Minh Sử Chuyên khoa 1 Ngoại thần kinh

Lê Văn Khánh

BS. Lê Văn Khánh Bác sĩ đa khoa Đa khoa

Trần Kim Quỳnh Tiên

BS. Trần Kim Quỳnh Tiên Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Nguyễn Xuân Ninh

BS. Nguyễn Xuân Ninh Chuyên khoa 1 Nội khoa

Nguyễn Thế Minh Nguyệt

BS. Nguyễn Thế Minh Nguyệt Chuyên khoa 1 Chẩn đoán hình ảnh

Đỗ Hải Thanh Anh

Ths.BS. Đỗ Hải Thanh Anh Chuyên khoa 1 Chẩn đoán hình ảnh

Nguyễn Đức Lộc

BS. Nguyễn Đức Lộc Bác sĩ đa khoa Y học hạt nhân

Nguyễn Ngọc Phương Thảo

Nguyễn Ngọc Phương Thảo Công nghệ sinh học

Trần Thị Kim Vân

BS. Trần Thị Kim Vân Thạc sĩ Nhi khoa

Cù Mỹ Hiếu Hạnh

Ths.BS. Cù Mỹ Hiếu Hạnh Thạc sĩ Nội thần kinh

Phạm Anh Khoa

BS. Phạm Anh Khoa Bác sĩ đa khoa Nội khoa

Ngô Xuân Trung

Ngô Xuân Trung Tiến sĩ Công nghệ sinh học

Ngô Thị Thanh Tâm

BS. Ngô Thị Thanh Tâm Thạc sĩ Răng Hàm Mặt

Nguyễn Yên Bảo

CN. Nguyễn Yên Bảo Công nghệ thông tin

Phạm Ngọc Đoan Trang

BS. Phạm Ngọc Đoan Trang Bác sĩ nội trú Sản khoa

Trần Ý Thảo

BS. Trần Ý Thảo Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Lê Anh Vũ

Ts. Lê Anh Vũ Tiến sĩ Công nghệ thông tin

Nguyễn Thị Ngọc Nhân

BS. Nguyễn Thị Ngọc Nhân Bác sĩ đa khoa Sản khoa

Nguyễn Phan Thế Huy

BS. Nguyễn Phan Thế Huy Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Nguyễn Thị Huyền Trang

BS. Nguyễn Thị Huyền Trang Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Lê Phạm Anh Vy

Lê Phạm Anh Vy Bác sĩ đa khoa

Hoàng Thị Tú Anh

BS. Hoàng Thị Tú Anh Bác sĩ nội trú Nội khoa

Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh

BS. Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh Chuyên khoa 1 Tai mũi họng