trang chu facebook twitter g+ youtube blog Blogspot Slideshare RSS Register Content Management
BS. Lâm Xuân Nhã Bác sĩ nội trú Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Chuyên Khoa Ngoại Thần Kinh Quốc Tế

Có thể bạn quan tâm

Gãy xẹp - Lún đốt sống multi document icon

Gãy xẹp/Lún đốt sống thường gặp nhất ở các bệnh nhân bị loãng xương. Gãy xẹp đốt sống ảnh hưởng khoảng 25% phụ nữ sau mãn kinh tại Mỹ. Tỉ lệ mắc tình trạng này tăng dần theo tuổi.

Dị tật dính khớp sọ sớm ở trẻ em multi document icon

Dị tật dính khớp sọ sớm ở trẻ em (hay còn gọi là tật hẹp sọ - Craniosynostosis) là một dị tật bẩm sinh xảy ra khi các đường khớp sọ dính với nhau sớm (đóng sớm). Việc dính sớm này làm em bé có hình dạng hộp sọ bất thường vì xương không mở rộng bình thường theo sự phát triển của não bộ

Dị dạng Chiari multi document icon

Dị dạng Chiari (Chiari Malformation) được xem là một tật bẩm sinh, mặc dù các bệnh mắc phải của tình trạng này đã được chẩn đoán. Giáo sư giải phẫu bệnh người Đức, Hans Chiari, đã đầu tiên mô tả những bất thường của não bộ ở vị trí chẩm cổ vào những năm 1890. Ông phân loại thứ tự theo mức độ nghiêm trọng: loại I, II, III và IV...

Dị dạng động tĩnh mạch multi document icon

Dị dạng động tĩnh mạch (Arteriovenous Malformations - AVM) là một đám mạch máu (động và tĩnh mạch) bất thường, sắp xếp lộn xộn, và dễ chảy máu

Hội chứng tuỷ sống bám thấp multi document icon

Hội chứng tủy sống bám thấp (Tethered Spinal Cord Syndrome) là một rối loạn thần kinh gây ra bởi tủy sống bị dính với vùng da xung quanh, điều này làm hạn chế sự chuyển động của tủy sống trong cột sống. Sự dính này gây ra bất thường kéo căng tủy sống. Hội chứng này có liên quan chặt chẽ với tật nứt đốt sống (spina bifida). Người ta ước tính rằng 20 đến 50 phần trăm trẻ em bị dị tật nứt đốt sống sẽ cần phải phẫu thuật giải phóng tuỷ sống (untethering) ngay sau khi sinh.

Nang Tarlov

Biên soạn:
Hiệu đính: BS. Trương Quang Huy
Ngày đăng:
Facebook Share on Google+ Tweet print

Số lượt xem: 12835

Tóm tắt: Nang Tarlov là cấu trúc nang chứa đầy dịch quanh rễ thần kinh, thường gặp nhiều nhất ở vùng xương cùng, phần cuối của cột sống. Nang điển hình hay hình thành dọc theo các rễ thần kinh sau. Các nang này có thể có hoặc không có van. Tính chất chính giúp phân biệt nang Tarlov với tổn thương khác là sự hiện diện của sợi rễ thần kinh trong thành nang, hoặc bên trong nang.

Nang Tarlov là gì?

Nang Tarlov là cấu trúc nang chứa đầy dịch quanh rễ thần kinh, thường gặp nhiều nhất ở vùng xương cùng, phần cuối của cột sống. Nang điển hình hay hình thành dọc theo các rễ thần kinh sau. Các nang này có thể có hoặc không có van. Tính chất chính giúp phân biệt nang Tarlov với tổn thương khác là sự hiện diện của sợi rễ thần kinh trong thành nang, hoặc bên trong nang.

Do vị trí gần khu vực vùng chậu thấp, bệnh nhân có thể bị chẩn đoán nhầm với thoát vị đĩa đệm thắt lưng, viêm màng nhện, và ở phụ nữ, có thể bị chẩn đoán nhầm với các bệnh phụ khoa. Việc chẩn đoán chính xác có thể phức tạp hơn nếu bệnh nhân có bệnh khác ảnh hưởng đến vùng chậu.

Mức độ phổ biến của nang Tarlov

Nang Tarlov nhỏ và không triệu chứng thực sự hiện diện trong khoảng 5 – 9 phần trăm dân số chung. Tuy nhiên, nang lớn có triệu chứng là tương đối hiếm. Nang Tarlov đầu tiên đã được xác định trong năm 1938, nhưng kiến thức khoa học về nang này vẫn còn rất hạn chế.

Trong một cuộc khảo sát về nang Tarlov gần đây, ước tính có khoảng 86,6 phần trăm là nữ, và 13,4 phần trăm là nam giới. Bệnh này gặp ở phụ nữ thường hơn nam giới. Phần lớn những người có bệnh trong khảo sát nằm trong độ tuổi từ 31 tới 60, với tổng cộng 80,4 phần trăm bệnh trong nhóm tuổi đó.

Ước tính có khoảng 33 phần trăm số người tham gia khảo sát có một nang hoặc nhiều nang ở các bộ phận khác của cơ thể, thường gặp nhất là bụng hoặc tay và cổ tay.

Ước tính có khoảng 3 phần trăm số người được hỏi không bị đau; 4,2 phần trăm đánh giá mức độ đau của họ là rất nhẹ ; 7,6 phần trăm là nhẹ, 31,5 phần trăm là vừa phải; 38,6 phần trăm là đau nhiều, và 15,1 phần trăm là rất nhiều.

Nguyên nhân gây các triệu chứng của nang Tarlov

Mặc dù nguyên nhân chính xác chưa được biết, có nhiều giả thuyết về những nguyên nhân khiến nang Tarlov không có triệu chứng thành có triệu chứng. Như ghi nhận được ở một số ca, tai nạn, té ngã ảnh hưởng đến khu vực xương cùng - cụt khiến những nang Tarlov chưa được chẩn đoán trước đây bùng phát triệu chứng.

Triệu chứng nang Tarlov

Sự gia tăng áp lực trong hoặc lên thành nang có thể làm tăng các triệu chứng và gây tổn thương thần kinh. Ngồi, đứng, đi bộ, và cúi người thường gây đau, và thường thì tư thế giảm đau duy nhất là nằm nghiêng về một bên. Triệu chứng rất khác nhau tùy bệnh nhân, có thể bùng phát và sau đó giảm đi. Những triệu chứng sau đây có thể xuất hiện ở bệnh nhân có nang Tarlov.

  • Đau ở vùng của các dây thần kinh bị ảnh hưởng bởi nang, đặc biệt là vùng mông.
  • Yếu cơ.
  • Khó ngồi lâu.
  • Mất cảm giác trên da.
  • Mất phản xạ.
  • Thay đổi đi tiêu ví dụ như táo bón.
  • Thay đổi trong chức năng bàng quang bao gồm tiểu lắt nhắt hoặc tiểu không tự chủ.
  • Thay đổi trong chức năng tình dục.

Chẩn đoán nang Tarlov

Nang Tarlov khó chẩn đoán vì hiểu biết về bệnh còn hạn chế, và vì nhiều triệu chứng có thể giống với các bệnh khác. Hầu hết bác sĩ gia đình (bác sĩ đa khoa) thường sẽ không nghĩ đến chẩn đoán nang Tarlov. Tốt nhất là nên tham vấn bác sĩ Ngoại thần kinh có kinh nghiệm về điều trị tình trạng này.

Nang Tarlov có thể được phát hiện khi bệnh nhân đau lưng hoặc đau thần kinh tọa được chụp cộng hưởng từ (MRI) . Bệnh nên được theo dõi bằng hình ảnh học, nhất là chụp CT tuỷ đồ ( chụp CT scan có bơm thuốc kênh tủy).

Hình MRI cho thấy hình ảnh nang Tarlov (mũi tên đỏ) trong ống sống ngang mức xương cùng S2 có thể gây chèn ép rễ thần kinh S2 bên trái (mũi tên xanh).

Chụp CT tủy sau 6 giờ tiêm thuốc cản quang cho thấy trong nang không có thuốc cản quang, như vậy không có thông thương giữa nang Tarlov (mũi tên đỏ) và khoang dưới nhện.

Chụp CT tủy sau 6 giờ tiêm thuốc cản quang cho thấy trong nang không có thuốc cản quang, như vậy không có thông thương giữa nang Tarlov (mũi tên đỏ) và khoang dưới nhện.

Nếu một bệnh nhân có vấn đề về bàng quang và tìm đến một bác sĩ tiết niệu,  một vài xét nghiệm có thể giúp chẩn đoán nang Tarlov. Các xét nghiệm niệu khoa tiêu chuẩn cho nang Tarlov là nhằm xác định xem bệnh nhân có triệu chứng bàng quang hỗn loạn thần kinh không.  Trong khảo sát niệu động học (urodynamics), bàng quang được bơm đầy nước qua ống thông và các đáp ứng của bàng quang được ghi nhận. Soi bàng quang là kỹ thuật đưa một ống với một máy quay phim nhỏ vào bàng quang qua niệu đạo. Bàng quang hỗn loạn thần kinh sẽ biểu hiện co cơ quá mức. Một xét nghiệm nữa có thể làm là siêu âm thận để xem nước tiểu trào ngược lên thận không.

Điều trị không phẫu thuật nang Tarlov

Phương pháp điều trị không phẫu thuật bao gồm dẫn lưu dịch não tủy thắt lưng, chọc hút nang dưới hướng dẫn CT, và một kỹ thuật mới hơn là hút dịch não tủy trong nang và sau đó bơm keo fibrin (keo sinh học) lấp đầy nang. Thật không may, không có thủ thuật nào trong những cách này có thể ngăn chặn tái phát ở các nang có triệu chứng.

Phẫu thuật nang Tarlov

Phẫu thuật nang Tarlov bao gồm bộc lộ vùng cột sống nơi có nang Tarlov. Nang được cắt mở ra, tháo lưu dịch nang, và sau đó bơm đầy keo fibrin hoặc các chất khác vào để ngăn chặn tái phát.

Các kỹ thuật phẫu thuật khác cho nang Tarlov có  triệu chứng bao gồm phẫu thuật cắt bản sống giải ép đơn giản (simple decompressive laminectomy), phẫu thuật cắt nang và / hoặc cắt bỏ rễ thần kinh, phẫu thuật mở nang vi phẫu và khâu ghép.

Hiện xu hướng phẫu thuật cho nang Tarlov ở Việt Nam là phá nang vi phẫu và ngừa tái phát bằng kẹp clip hay khâu cột cuống nang.

Các tác giả của một nghiên cứu ghi nhận rằng bệnh nhân có nang Tarlov lớn hơn 1,5 cm và đau lan toả liên quan rễ thần kinh hoặc rối loạn chức năng bàng quang hay đại tràng sẽ đáp ứng  điều trị phẫu thuật tốt nhất. Tuy nhiên, lợi ích luôn luôn phải được cân nhắc với nguy cơ của phẫu thuật mang lại.

Kết quả sau phẫu thuật nang Tarlov

Sau phẫu thuật, dò dịch não tủy là biến chứng thường gặp nhất, nhưng chúng có thể tự liền trong một số trường hợp. Bệnh nhân có thể được hướng dẫn nằm trên giường với chân giường nâng cao lên, và mang áo nẹp (corset) để giảm sưng. Nguy cơ biến chứng viêm màng não vi trùng là có, dù là thấp. Mặc dù một số bệnh nhân ghi nhận sự giảm đau đáng kể, kết quả tiêu cực phổ biến nhất là ca mổ không giải quyết được các triệu chứng. Trong một số trường hợp, phẫu thuật có thể làm cho triệu chứng đã có nặng hơn nữa hoặc có thể gây ra triệu chứng mới.

Khi tất cả các lựa chọn điều trị đều không có hiệu quả, điều tiên quyết là bệnh nhân phải chấp nhận một số thay đổi sinh hoạt cần thiết và tuân thủ phác đồ kiểm soát đau với bác sĩ. Với kiểm soát đau có giám sát, và hỗ trợ nhóm đồng bệnh, bệnh nhân có thể thích nghi được với nó và cải thiện chất lượng cuộc sống của mình.

Tài liệu tham khảo

http://www.aans.org/Patient%20Information/Conditions%20and%20Treatments/Tarlov%20Cyst.aspx
http://www.burtonreport.com/infspine/surgfatgraftcyst.htm
http://radiopaedia.org/images/1829999
http://www.neuroradiologycases.com/2011/08/blog-post_11.html
http://www.ijnm.in/article.asp?issn=0972-3919;year=2012;volume=27;issue=2;spage=111;epage=114;aulast=Padma

  • Gãy xẹp - Lún đốt sống

    
    Biên soạn: BS. Bùi Diễm Khuê
    Hiệu đính: BS.TS. Huỳnh Kim Hiệu
    Ngày đăng: 2014-09-15 04:33:04
    Facebook Share on Google+ Tweet print

    Số lượt xem: 9808

    Gãy xẹp/Lún đốt sống thường gặp nhất ở các bệnh nhân bị loãng xương. Gãy xẹp đốt sống ảnh hưởng khoảng 25% phụ nữ sau mãn kinh tại Mỹ. Tỉ lệ mắc tình trạng này tăng dần theo tuổi.

  • Dị dạng động tĩnh mạch

    
    Biên soạn: BS. Lâm Xuân Nhã
    Hiệu đính: BS. Trương Quang Huy
    Ngày đăng: 2014-01-15 11:10:39
    Facebook Share on Google+ Tweet print

    Số lượt xem: 12460

    Dị dạng động tĩnh mạch (Arteriovenous Malformations - AVM) là một đám mạch máu (động và tĩnh mạch) bất thường, sắp xếp lộn xộn, và dễ chảy máu

  • U não do di căn

    
    Biên soạn: BS. Lâm Xuân Nhã
    Hiệu đính: BS.TS. Phạm Nguyên Quý
    Ngày đăng: 2013-12-24 17:21:31
    Facebook Share on Google+ Tweet print

    Số lượt xem: 13003

    U não do di căn là những khối u ở não có nguồn gốc từ các mô hoặc cơ quan bên ngoài não. Di căn não là biến chứng thường gặp của ung thư toàn thân và nguyên nhân quan trọng gây nên thương tật và tử vong ở những bệnh nhân ung thư. Bệnh có tiên lượng khá xấu và phương thức điều trị thay đổi tùy theo kích thước và vị trí u não, loại ung thư nguyên phát và sức khỏe chung của người bệnh.

  • Thoát vị đĩa đệm

    
    Biên soạn: BS. Lâm Xuân Nhã
    Hiệu đính: BS. Nguyễn Ngọc Thiện
    Ngày đăng: 2013-12-17 03:08:27
    Facebook Share on Google+ Tweet print

    Số lượt xem: 13005

    Thoát vị đĩa đệm là tình trạng một mảnh của nhân đĩa đệm được thoát ra khỏi vòng sợi, vào trong ống sống thông qua vị trí đứt rách vòng sợi. Đĩa đệm trở nên bị thoát vị thường là trong giai đoạn đầu của sự thoái hóa. Ống sống có không gian hạn chế, không đủ cho các dây thần kinh và mảnh thoát vị đĩa đệm. Do sự di chuyển này, các đĩa đệm ép vào dây thần kinh, thường gây đau và có thể là nghiêm trọng

  • Dị dạng Chiari

    
    Biên soạn: BS. Lâm Xuân Nhã
    Hiệu đính: BS. Nguyễn Ngọc Thiện
    Ngày đăng: 2014-01-16 04:46:39
    Facebook Share on Google+ Tweet print

    Số lượt xem: 12308

    Dị dạng Chiari (Chiari Malformation) được xem là một tật bẩm sinh, mặc dù các bệnh mắc phải của tình trạng này đã được chẩn đoán. Giáo sư giải phẫu bệnh người Đức, Hans Chiari, đã đầu tiên mô tả những bất thường của não bộ ở vị trí chẩm cổ vào những năm 1890. Ông phân loại thứ tự theo mức độ nghiêm trọng: loại I, II, III và IV...

  • Máu tụ dưới màng cứng

    
    Biên soạn: BS. Lâm Xuân Nhã
    Hiệu đính: BS. Trương Quang Huy
    Ngày đăng: 2013-12-09 09:03:55
    Facebook Share on Google+ Tweet print

    Số lượt xem: 14459

    Máu tụ dưới màng cứng là khối máu đông hình thành trong trong khoang dưới màng cứng. Đây là khoảng giữa hai lớp màng não, là màng bao quanh và bảo vệ não. Máu tụ dưới màng cứng thường do chấn thương đầu. Đây là một bệnh nặng và cần điều trị cấp cứu. CT scan có thể cho thấy máu tụ dưới màng cứng. Bệnh nhân có thể cần phải được phẫu thuật để lấy máu tụ. Nhiều người bị máu tụ dưới màng cứng lượng ít có thể hồi phục nhanh chóng và hoàn toàn.

  • Dị dạng mạch máu dạng hang

    
    Biên soạn: BS. Lâm Xuân Nhã
    Hiệu đính: BS. Lê Trần Minh Sử
    Ngày đăng: 2013-12-14 11:59:03
    Facebook Share on Google+ Tweet print

    Số lượt xem: 12714

    Dị dạng mạch máu dạng hang là tổ chức bất thường của mạch máu não nhỏ, thành mạch máu mỏng chứa đầy máu. Những dị dạng mạch máu dạng hang cũng có thể xảy ra trong tủy sống, màng cứng, hoặc các dây thần kinh sọ

  • Máu tụ ngoài màng cứng

    
    Biên soạn: BS. Lâm Xuân Nhã
    Hiệu đính: BS. Lê Trần Minh Sử
    Ngày đăng: 2013-09-10 13:03:44
    Facebook Share on Google+ Tweet print

    Số lượt xem: 14596

    Máu tụ ngoài màng cứng (Extradural Hematoma) thường xảy ra trong đầu (sọ). Nó là khối tụ máu trong khoang giữa hộp sọ và màng bảo vệ bên ngoài của não (gọi là màng cứng). Thông thường nó xảy ra trong chấn thương đầu có gãy xương sọ. Chụp CT sọ não có thể cho thấy hình ảnh máu tụ ngoài màng cứng. Máu tụ ngoài màng cứng là một tình trạng nghiêm trọng và việc điều trị cấp cứu là cần thiết. Phẫu thuật loại bỏ khối máu tụ cũng có thể được chỉ định.

  • Dị tật dính khớp sọ sớm ở trẻ em

    
    Biên soạn: BS. Lâm Xuân Nhã
    Hiệu đính: Ths.BS. Đặng Đỗ Thanh Cần
    Ngày đăng: 2014-01-23 11:18:29
    Facebook Share on Google+ Tweet print

    Số lượt xem: 14063

    Dị tật dính khớp sọ sớm ở trẻ em (hay còn gọi là tật hẹp sọ - Craniosynostosis) là một dị tật bẩm sinh xảy ra khi các đường khớp sọ dính với nhau sớm (đóng sớm). Việc dính sớm này làm em bé có hình dạng hộp sọ bất thường vì xương không mở rộng bình thường theo sự phát triển của não bộ

  • U não - Những điều cần biết

    
    Biên soạn: BS. Lâm Xuân Nhã
    Hiệu đính: BS. Trương Quang Huy
    Ngày đăng: 2013-12-21 11:03:17
    Facebook Share on Google+ Tweet print

    Số lượt xem: 13082

    U não là những khối u hình thành do sự phát triển bất thường của các tế bào trong não. Có nhiều loại u não khác nhau, một số loại là lành tính (không phải ung thư) và một số loại khác là ác tính (ung thư). U não có thể bắt đầu ngay từ trong não (u não nguyên phát) hoặc di căn từ các bộ phận khác đến não (u não thứ phát). Lựa chọn điều trị u não phụ thuộc vào loại u não, kích thước, vị trí u não và tình trạng sức khỏe chung của bạn.

  • Hội chứng tuỷ sống bám thấp

    
    Biên soạn: BS. Lâm Xuân Nhã
    Hiệu đính: BS. Lê Trần Minh Sử
    Ngày đăng: 2014-01-06 06:22:48
    Facebook Share on Google+ Tweet print

    Số lượt xem: 13639

    Hội chứng tủy sống bám thấp (Tethered Spinal Cord Syndrome) là một rối loạn thần kinh gây ra bởi tủy sống bị dính với vùng da xung quanh, điều này làm hạn chế sự chuyển động của tủy sống trong cột sống. Sự dính này gây ra bất thường kéo căng tủy sống. Hội chứng này có liên quan chặt chẽ với tật nứt đốt sống (spina bifida). Người ta ước tính rằng 20 đến 50 phần trăm trẻ em bị dị tật nứt đốt sống sẽ cần phải phẫu thuật giải phóng tuỷ sống (untethering) ngay sau khi sinh.

  • Co giật nửa mặt

    
    Biên soạn: BS. Lâm Xuân Nhã
    Hiệu đính: BS. Lê Trần Minh Sử
    Ngày đăng: 2013-09-12 14:08:28
    Facebook Share on Google+ Tweet print

    Số lượt xem: 14712

    Co giật nửa mặt là tình trạng bệnh biểu hiện trên một nửa khuôn mặt của bạn.

  • Túi phình mạch não

    
    Biên soạn: BS. Trương Quang Huy
    Hiệu đính: BS. Lê Trần Minh Sử
    Ngày đăng: 2013-11-30 13:55:01
    Facebook Share on Google+ Tweet print

    Số lượt xem: 12564

    Túi phình mạch não là chỗ phồng hay phình ra của mạch máu não, nhìn giống như quả dâu treo trên cuống. Túi phình có thể dò hay vỡ, gây chảy máu trong não (đột quỵ xuất huyết). Hầu hết túi phình vỡ xảy ra trong khoảng giữa não và lớp mô mỏng bao quanh não. Kiểu đột quỵ xuất huyết này gọi là xuất huyết khoang dưới nhện (hay xuất huyết dưới nhện). Vỡ túi phình đe doạ tính mạng rất nhanh và cần sớm được can thiệp y khoa.

  • Não úng thuỷ

    
    Biên soạn: BS. Lâm Xuân Nhã
    Hiệu đính: BS. Lê Trần Minh Sử
    Ngày đăng: 2013-12-14 10:34:54
    Facebook Share on Google+ Tweet print

    Số lượt xem: 15190

    Não úng thủy (hydrocephalus) có nguồn gốc từ hai chữ: " hydro” có nghĩa là nước, và "cephalus" đề cập đến “não” (còn gọi là bệnh đầu nước).

  • Đau dây thần kinh chẩm

    
    Biên soạn: BS. Lâm Xuân Nhã
    Hiệu đính: BS. Trương Quang Huy
    Ngày đăng: 2013-12-05 04:24:22
    Facebook Share on Google+ Tweet print

    Số lượt xem: 16143

    Đau dây thần kinh chẩm là một nguyên nhân gây đau đầu thường gặp. Đau liên quan đến các dây thần kinh chẩm là hai đôi dây thần kinh xuất phát từ đốt sống cổ thứ hai và thứ ba (C2,C3). Cơn đau điển hình thường bắt đầu tại nền sọ ngay vùng gáy và có thể đau lan tới vùng sau mắt, phía sau, phía trước và phía bên đầu.

  • Tật nứt đốt sống (Spina Bifida)

    
    Biên soạn: BS. Lâm Xuân Nhã
    Hiệu đính: Ths.BS. Đặng Đỗ Thanh Cần
    Ngày đăng: 2013-12-05 07:36:00
    Facebook Share on Google+ Tweet print

    Số lượt xem: 12694

    Tật nứt đốt sống là khuyết tật bẩm sinh vĩnh viễn phổ biến nhất. Nó ảnh hưởng đến khoảng 1/1.400 đến 1/1.500 trẻ sơ sinh tại Hoa Kỳ. Hiệp hội tật nứt đốt sống (Spina Bifida) ước tính có khoảng 70.000 người sinh sống tại Hoa Kỳ bị khuyết tật này. Tỷ lệ này dường như đã giảm trong những năm gần đây một phần do biện pháp phòng ngừa cho bà mẹ trước và trong khi mang thai, cũng như các xét nghiệm trước sinh.

Xem thêm
bullet-header Chia sẻ bài viết
Ủng hộ bài viết trên FB, G+
Theo dõi Y Học Cộng Đồng trên mạng xã hội

Lâm Xuân Nhã
BS. Lâm Xuân Nhã
Bác sĩ nội trú
Ngành: Chẩn đoán hình ảnh
Công tác tại: Bệnh viện Chuyên Khoa Ngoại Thần Kinh Quốc Tế
Đinh Thị Kiều Lam

BS. Đinh Thị Kiều Lam Chuyên khoa 1 Nhiễm

Nguyễn Thanh Tùng

TS Nguyễn Thanh Tùng Tiến sĩ Răng Hàm Mặt

Phạm Ngọc Đan Thanh

BS. Phạm Ngọc Đan Thanh Bác sĩ đa khoa Nhãn khoa

Tô Mai Xuân Hồng

BS.TS. Tô Mai Xuân Hồng Tiến sĩ Sản khoa

Nguyễn Thị Thu Hương

BS. Nguyễn Thị Thu Hương Bác sĩ nội trú Răng Hàm Mặt

Nguyễn Kim Long

ThS. Nguyễn Kim Long Thạc sĩ Công nghệ thông tin

Huỳnh Trung Triệu

BS. Huỳnh Trung Triệu Bác sĩ nội trú Nhiễm

Trịnh Ngọc Thuỳ An

BS. Trịnh Ngọc Thuỳ An Chuyên khoa 1 Nhãn khoa

Đoàn Văn Minh

BS. Đoàn Văn Minh Thạc sĩ Đa khoa

Đặng Đỗ Thanh Cần

Ths.BS. Đặng Đỗ Thanh Cần Thạc sĩ Ngoại thần kinh

Nguyễn Thu Hà

Nguyễn Thu Hà Bác sĩ đa khoa

Nguyễn Huỳnh Nhật Tuấn

BS. Nguyễn Huỳnh Nhật Tuấn Chuyên khoa 1 Chẩn đoán hình ảnh

Phạm Bảo Ngọc

BS. Phạm Bảo Ngọc Bác sĩ nội trú Ngoại tổng quát

Trần Ngọc Đăng

BS. Trần Ngọc Đăng Bác sĩ đa khoa Đa khoa

Phan Thị Xuân Viên

BS. Phan Thị Xuân Viên Bác sĩ nội trú Nội khoa

Nguyễn Hồ Quỳnh Anh

BS. Nguyễn Hồ Quỳnh Anh Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Võ Thành Luân

BS. Võ Thành Luân Chuyên khoa 1 Chẩn đoán hình ảnh

Nguyễn Nam Hà

BS. Nguyễn Nam Hà Y học cổ truyền

Đoàn Thị Thoa

BS. Đoàn Thị Thoa Bác sĩ đa khoa Đa khoa

Nguyễn Thị Hương Bình

BS. Nguyễn Thị Hương Bình Bác sĩ đa khoa Tai mũi họng

Phan Hoàng Phương Khanh

BS. Phan Hoàng Phương Khanh Bác sĩ nội trú Nội thần kinh

Nguyễn Hữu Thanh

BS. Nguyễn Hữu Thanh Thạc sĩ Chẩn đoán hình ảnh

Nguyễn Hoàng An

BS. Nguyễn Hoàng An Chuyên khoa 1 Nội khoa

Nguyễn Ngọc Thiện

BS. Nguyễn Ngọc Thiện Chuyên khoa 1 Ngoại thần kinh

Ngô Thị Thanh Tâm

BS. Ngô Thị Thanh Tâm Thạc sĩ Răng Hàm Mặt

Bùi Thị Phương Loan

BS. Bùi Thị Phương Loan Chuyên khoa 1 Sản khoa

Lê Đăng Khoa

BS. Lê Đăng Khoa Bác sĩ đa khoa Nam khoa

Nguyễn Xuân Ninh

BS. Nguyễn Xuân Ninh Chuyên khoa 1 Nội khoa

Nguyễn Tấn Tài

Nguyễn Tấn Tài Bác sĩ đa khoa Đa khoa

Nguyễn Văn Phúc

BS. Nguyễn Văn Phúc Chuyên khoa 1 Đa khoa

Nguyễn Thị Yến Nhi

BS. Nguyễn Thị Yến Nhi Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Nguyễn Quang Tâm

BS. Nguyễn Quang Tâm Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Phạm Ngọc Đoan Trang

BS. Phạm Ngọc Đoan Trang Bác sĩ nội trú Sản khoa

La Hồng Châu

Ths. BS. La Hồng Châu Thạc sĩ Chẩn đoán hình ảnh

Phạm Hồ Liên Phương

BS. Phạm Hồ Liên Phương Bác sĩ đa khoa Nhi khoa

Trần Công Bảo Phụng

BS. Trần Công Bảo Phụng Bác sĩ nội trú Nhi khoa

Bùi Diễm Khuê

BS. Bùi Diễm Khuê Bác sĩ đa khoa

Nguyễn Thị Ngọc Nhân

BS. Nguyễn Thị Ngọc Nhân Bác sĩ đa khoa Sản khoa

Nguyễn Thị Huyền Trang

BS. Nguyễn Thị Huyền Trang Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Nguyễn Võ Ngọc Trang

BS. Nguyễn Võ Ngọc Trang Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Lê Trần Minh Sử

BS. Lê Trần Minh Sử Chuyên khoa 1 Ngoại thần kinh

Võ Triệu Đạt

BS. Võ Triệu Đạt Thạc sĩ Sản khoa

Đặng Ngọc Trân

BS. Đặng Ngọc Trân Bác sĩ đa khoa Tai mũi họng

Trần Kim Quỳnh Tiên

BS. Trần Kim Quỳnh Tiên Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Trần Quốc Hương

BS. Trần Quốc Hương Bác sĩ đa khoa Đa khoa

Trương Quang Huy

BS. Trương Quang Huy Chuyên khoa 1 Ngoại thần kinh

Cù Mỹ Hiếu Hạnh

Ths.BS. Cù Mỹ Hiếu Hạnh Thạc sĩ Nội thần kinh

Phạm Minh Sơn

BS. Phạm Minh Sơn Bác sĩ nội trú Sản khoa

Lâm Xuân Nhã

BS. Lâm Xuân Nhã Bác sĩ nội trú Chẩn đoán hình ảnh

Đỗ Hải Thanh Anh

Ths.BS. Đỗ Hải Thanh Anh Chuyên khoa 1 Chẩn đoán hình ảnh

Trần Ý Thảo

BS. Trần Ý Thảo Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Nguyễn Quốc Vinh

BS. Nguyễn Quốc Vinh Bác sĩ nội trú Ngoại tổng quát

Nguyễn Thị Nhã Đan

BS. Nguyễn Thị Nhã Đan Bác sĩ đa khoa Sản khoa

Huỳnh Mỹ Liên

BS. Huỳnh Mỹ Liên Bác sĩ nội trú Sản khoa

Nguyễn Ngọc Yến Thư

BS. Nguyễn Ngọc Yến Thư Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Lâm Đại Phong

BS. Lâm Đại Phong Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Võ Nguyễn Ngọc Trang

BS. Võ Nguyễn Ngọc Trang Bác sĩ đa khoa Nội thần kinh

Nguyễn Phan Thế Huy

BS. Nguyễn Phan Thế Huy Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Nguyễn Khánh Linh

ThS.BS. Nguyễn Khánh Linh Thạc sĩ Sản khoa

Lê Thanh Nhã Uyên

BS. Lê Thanh Nhã Uyên Bác sĩ đa khoa Đa khoa

Lê Văn Khánh

BS. Lê Văn Khánh Bác sĩ đa khoa Đa khoa

Trần Mạnh Linh

ThS.BS. Trần Mạnh Linh Thạc sĩ Sản khoa

Nguyễn Thị Minh Trang

BS. Nguyễn Thị Minh Trang Bác sĩ nội trú Sản khoa

Vương Ngọc Thiên Thanh

BS. Vương Ngọc Thiên Thanh Bác sĩ nội trú Nhi khoa

Lý Kiều Diễm

Ths.BS. Lý Kiều Diễm Thạc sĩ Nhi khoa

Nguyễn Ngọc Phương Thảo

Nguyễn Ngọc Phương Thảo Công nghệ sinh học

Nguyễn Diệu Hương

BS. Nguyễn Diệu Hương Bác sĩ đa khoa Nhãn khoa

Phạm Thanh Hoàng

BS. Phạm Thanh Hoàng Bác sĩ nội trú Sản khoa

Nguyễn Thanh Bình

BS. Nguyễn Thanh Bình Bác sĩ đa khoa Đa khoa

Nguyễn Thế Minh Nguyệt

BS. Nguyễn Thế Minh Nguyệt Chuyên khoa 1 Chẩn đoán hình ảnh

Trần Kinh Thành

BS. Trần Kinh Thành Bác sĩ đa khoa Nội khoa

Nguyễn An Nghĩa

BS. Nguyễn An Nghĩa Chuyên khoa 1 Nhi khoa

Hoàng Thị Tú Anh

BS. Hoàng Thị Tú Anh Bác sĩ nội trú Nội khoa

Lê Anh Vũ

Ts. Lê Anh Vũ Tiến sĩ Công nghệ thông tin

Trịnh Hoàng Kim Tú

BS. Trịnh Hoàng Kim Tú Bác sĩ đa khoa Đa khoa

Triệu Thị Thanh Tuyền

BS. Triệu Thị Thanh Tuyền Bác sĩ đa khoa Sản khoa

Nguyễn Hải Nam

BS. Nguyễn Hải Nam Bác sĩ nội trú

Nguyễn Vũ Xuân Huy

BS. Nguyễn Vũ Xuân Huy Bác sĩ nội trú Răng Hàm Mặt

Hoàng Minh Tú Vân

BS. Hoàng Minh Tú Vân Bác sĩ đa khoa Nhiễm

Huỳnh Kim Hiệu

BS.TS. Huỳnh Kim Hiệu Bác sĩ đa khoa Y học hạt nhân

Hồ Dũng

BS. Hồ Dũng Thạc sĩ Đa khoa

Nguyễn Yên Bảo

CN. Nguyễn Yên Bảo Công nghệ thông tin

Ngô Xuân Trung

Ngô Xuân Trung Tiến sĩ Công nghệ sinh học

Bùi Thị Hằng

BS. Bùi Thị Hằng Bác sĩ nội trú Nhi khoa

Trần Thị Kim Vân

BS. Trần Thị Kim Vân Thạc sĩ Nhi khoa

Mạc Thị Mỹ Nguyện

BS. Mạc Thị Mỹ Nguyện Bác sĩ đa khoa Đa khoa

Phạm Anh Khoa

BS. Phạm Anh Khoa Bác sĩ đa khoa Nội khoa

Chế Thị Trà My

BS. Chế Thị Trà My Chuyên khoa 1 Sản khoa

Lê Phạm Anh Vy

Lê Phạm Anh Vy Bác sĩ đa khoa

Nguyễn Đức Lộc

BS. Nguyễn Đức Lộc Bác sĩ đa khoa Y học hạt nhân

Nguyễn Thanh Hưng

BS. Nguyễn Thanh Hưng Thạc sĩ Nhi khoa

Hoàng Đình Tuy

BS. Hoàng Đình Tuy Chuyên khoa 1 Ngoại tổng quát

Lê Hoàng Sơn

BS. Lê Hoàng Sơn Bác sĩ đa khoa Răng Hàm Mặt

Phùng Hoàng Đạo

BS. Phùng Hoàng Đạo Bác sĩ nội trú Nội khoa

Tạ Thùy Linh

BS. Tạ Thùy Linh Bác sĩ nội trú Nhãn khoa

Phạm Nguyên Quý

BS.TS. Phạm Nguyên Quý Bác sĩ đa khoa Đa khoa